Tạm
quên cúm heo, cúm gà, cúm bà… bệnh dịch nghiêm trọng của
thời đại là bệnh “cầm nhầm.”
Thật ra “cầm
nhầm” chỉ là một tiếng lóng không có liệt kê trong
tự điển Việt Nam đứng đắn. Theo cá nhân tôi, “cầm
nhầm” là một động từ được hiểu theo nghĩa bình dân
giáo dục, bên ngoài lớp học là:
“Vô tình
(?) lấy làm của riêng những cái gì không phải của mình.”
Cầm nhầm
cũng được dùng như một lời giải thích thật dễ thương,
vô tội, vì cái nghĩa “nhầm,” chỉ vô tình thôi chứ có phải
cố ý (!) gì đâu mà làm ầm lên?”
Lời giải
thích dễ thương này dễ dàng được thông cảm, dễ được
tha thứ một khi hành động “cầm nhầm” bị phát giác,
bị lật tẩy…
Trong khuôn
khổ bài này, người viết xin bàn một cách giới hạn sự “cầm
nhầm” sáng kiến và tư tưởng trên lãnh vực tạm gọi
là “sản phẩm nghệ thuật và trí tuệ,” cùng với một
ít ý kiến về việc “cầm nhầm tên tuổi” người khác.
Tùy giá trị (tính
ra hiện kim hoặc gía trị tinh thần, tim óc…) của sự vật
bị lấy đi làm của riêng không xin phép trước (hoặc đã
có xin phép rồi nhưng sở hữu chủ đã từ chối, không bằng
lòng cho phép sử dụng!) và cũng tùy hoàn cảnh, cách hành
động và cường độ nghiêm trọng, “cầm nhầm” còn có
các tên gọi khác từ lịch sự, thanh nhã, rất ngây thơ vô
tội đến xuồng xã trắng trợn như: đỡ nhẹ, thuổng, trộm,
rinh ẩu, chôm, chỉa, đạo, ăn cắp, ăn cướp…
Để định
nghĩa cho trọn vẹn hơn, tôi xin mạn phép được bổ túc thêm
một chút vào ý nghĩa của chữ “cầm nhầm” như sau:
- Sửa chữa
hoặc thay đổi sản phẩm, sáng kiến hay tư tưởng của người
khác.
- Trực tiếp
“cóp-pi,” sử dụng, cho mục đích cá nhân, những sáng kiến,
tư tuởng của người khác rồi lại mập mờ ấm ớ không
liệt kê, không khai báo nguồn gốc cho rõ ràng.
- Đưa ra
một vấn đề, một sản phẩm, một tác phẩm… rồi tự
quảng cáo là “mới” và “nguyên’ thủy” nhưng thực
ra đã sửa chữa từ sáng kiến hay tư tưởng đã có sẵn,
đã được biết từ truớc.
- Thuần túy ăn
cắp; nếu võ lực có đi kèm theo sự ăn cắp thì được
gọi là cướp, ăn cướp.
Như vậy,
“cầm nhầm” cũng chỉ là một hình thức ăn trộm tài
sản, trí tuệ của người khác một cách lén lút nhưng không
kém phần nghiêm trọng...
Trên phương
diện pháp lý, “cầm nhầm” là một tội phạm (Crime)
tương đương với “lường gạt” (Fraud): Lấy của người
khác một cách trái phép (Stealing); và sau đó khai gian, báo
gian là của mình (Giving false report).
“Cầm nhầm,”
nếu được khảo sát cho thật kỹ, là cả một công trình,
sự tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng của hai giai đoạn: tiến
(lấy trộm) và thoái (sắp đặt sẵn lời giải thích nếu
bị phát giác).
Người biết
cách “cầm nhầm” phải là người vừa thông minh, vừa
gian sảo, vừa tham lam… Trong trường hợp không bị phát
giác (rất hiếm!) người “cầm nhầm” giỏi sẽ trở thành
nổi tiếng hoặc giầu có chỉ trong một thời gian ngắn vì
đã đốt giai đoạn, đi đường tắt trên công sức và trí
tuệ của người khác.
Thời buổi
tân tiến này, nhờ các kỹ thuật khoa học và thông tin
phổ cập, dễ dàng, mau chóng và thuận tiện, vấn đề “cầm
nhầm” còn sâu, dầy và tràn lan hơn lúc trước khi cuộc
cách mạng tin học ra đời. Chỉ cần một hai cái “tìm
kiếm” (Googling search) và vài cái “bấm con chuột” (Mouse
clicks) một tay “cầm nhầm” không cần phải chuyên nghiệp
cũng có khả năng “cắt và dán” (Cut & Paste) vài ngàn
trang giấy viết tay dễ như ăn “cơm sườn!”
Muốn đặt
một nguyên tắc căn bản dùng để thẩm định vấn đề
“cầm nhầm” tôi nghĩ không có gì chính xác hơn là nhìn
vào các tài liệu có ghi chép các mốc thời gian sự xuất
hiện lần đầu tiên của các “sản phẩm nghệ thuật và
trí tuệ.” Từ các mốc đó, chúng ta có thể suy luận hay
kết luận là “cái nào là ‘gốc’ cái nào là ‘đạo’?
ai ‘cầm nhầm’ của ai?
1-
Cầm nhầm Âm nhạc
Đạo thơ
viết thành nhạc, đạo nhạc (melody), đạo lời nhạc (lyrics)…
thấy nhan nhản trong sinh hoạt âm nhạc, trong đời sống hàng
ngày chung quanh chúng ta. Trong tiết mục cầm nhầm âm nhạc
phải bàn về 3 nhân vật tiêu biểu: Pham Duy, Diệu Hương và
Bảo Chấn.
Phạm Duy
Trên địa
bàn sáng tác nhạc, có nhiều cảnh huống “cầm nhầm lời
thơ” của người khác rồi “quên” không để tên tác
giả vào… Nội cái mảng “cầm nhầm lời thơ” này thôi,
có lẽ nhạc sĩ tên tuổi Phạm Duy nổi tiếng nhất.
Duyên Anh
khi còn sống, đã có lần nói:
"… đáng
lẽ ra, Cụ Phạm Duy Tốn nên đặt tên cho ông con này của
cụ là Phạm Duy Lợi, mới đúng!"
Nên biết đầu
thập niên ‘70 là giai đoạn mà miền Nam Việt Nam đang
có những nỗ lực chống cộng rất sôi bỏng và những bất
trắc chiến tranh, ngỡ ngàng về tương lai của tuổi trẻ
thanh niên Việt Nam lên cao điểm; các bài hát nổi tiếng của
Phạm Duy sáng tác được ưa chuộng rộng rãi và có ảnh hưởng
văn hóa, chính trị sâu đậm trong dân gian, đều lọt vào
thể loại “cầm nhầm lời thơ.”
Đầu tiên
Phạm Duy đã “đỡ nhẹ” gần nguyên con bài thơ “Để
trả lời một câu hỏi” của thi sĩ Hoàng Linh Phương, rồi
viết thành bản nhạc bất hủ “Kỷ vật cho em.”
Bài thơ “Để
trả lời một câu hỏi” khởi đăng trên trên trang thơ văn
của tờ báo “Độc lập” của thi sĩ Trần Dạ Từ vào
tháng 2 năm 1970.
Năm 1971,
Pham Duy đã “sáng tác” và “phổ biến” bài nhạc
“Kỷ vật cho em” dùng lời thơ của bài “Để trả lời
một câu hỏi” mà tên thi sĩ Linh Phương không hề được
đề cập đến. Nên biết chỉ trong vòng một năm, bài “Kỷ
vật cho em” rất được ưa chuộng; bởi vì chiến tranh Việt
Nam trở lên khốc liệt, lan rộng qua khỏi biên giới Việt
Nam, có những cuộc hành quân qui mô đẫm máu như Lam Sơn 719
(ở Hạ Lào, tháng 2 và tháng 3, năm 1971), và hành quân tại
phía Đông Cam-Bốt (Snoul – tháng 5 năm 1971). Tin tức chiến
sự hàng ngày kèm theo các báo cáo về số chiến sĩ VNCH thương
vong đáng kể trên chiến trường thì bài hát này không chỉ
là đơn thuần là một bài hát về tình yêu đổ vỡ, định
mệnh oan trái của con người mà còn gây lên một không khí
phản chiến cao chưa từng thấy trước đây vì lời ca có
nhiều đoạn được xem là “làm nản lòng chiến sĩ,”
“bất lợi cho chính nghĩa chiến đấu bảo vệ lãnh thổ...”
trong cuộc chiến chống CS của quân dân miền nam Việt Nam.
Dĩ nhiên
bài nhạc “Kỷ vật cho em” bán rất chạy. Phạm Duy
không hề đề cập gì đến tên thi sĩ Linh Phương trong lần
đầu tiên xuất bản bài hát đã đành; mà đến ngay khi Phạm
Duy xuất bản bài này trong tập nhạc “Kỷ vật cho chúng
ta” (do nhà xuất bản “Gìn vàng giữ ngoc” phát hành); và
sau đó bán bản quyển bài “Kỷ vật cho em” cho hãng đĩa
Việt Nam, thì tên thi sĩ Linh Phương vẫn bị gạt ra chẳng
thấy đâu…
Nhiều tờ báo
lớn, báo nhỏ như Sống, Lập trường, Sân khấu truyền
hình… bắt đầu lên tiếng “bất mãn dùm” cho thi sĩ Linh
Phương. Theo lời của thi sĩ Linh phương trong “Hồi ký Linh
Phương” thì một người bạn của thi sĩ là phóng viên Thiên
Hải đã đưa lên trang nhất của một tờ nhật báo (?) đại
ý lên tiếng là thi sĩ tác giả của bài “Để trả lời
một câu hỏi” sẽ kiện Phạm Duy ra tòa vì vi phạm tác quyền.
Khi bị báo chí trực tiếp chất vấn Phạm Duy về sự “nhầm”
này, thì Phạm Duy trả lời là tỉnh bơ là:
“… vì
tôi không biết thi sĩ là ai? và không biết tìm ở đâu?”
Lời biện
minh ngây thơ vô tội này của “bố già” Phạm Duy nghe
không ổn vì bài thơ đã được đăng nhiều lần qua các báo
với tên tác giả Linh Phương rành rành. Thi sĩ Linh Phương
cũng cho biết là:
“… Cuối
cùng đưa đến việc Phạm Duy trực tiếp tiếp xúc và đồng
ý trả số tiền tác quyền 50 ngàn đồng (giá vàng lúc đó
là 10 ngàn đồng một lượng).”
Sau đó các ấn
bản của bài “Kỷ vật cho em” mới thấy có đề tên
Linh Phương đồng tác giả với Phạm Duy.
Mời quí vị đọc
bài thơ gốc: “Để trả lời một câu hỏi” của
thi sĩ Linh Phương đăng trên báo “Độc lập” vào tháng
2 năm 1970:
Em hỏi
anh bao giờ trở lại
Xin trả
lời mai mốt anh về
Không
bằng chiến thắng trận Pleime
Hay Đức
Cơ - Đồng Xoài - Bình Giả
Anh trở
về hàng cây nghiêng ngã
Anh trở
về hòm gỗ cài hoa
Anh trở
về bằng chiếc băng ca
Trên trực
thăng sơn màu tang trắng
Mai trở
về chiều hoang trốn nắng
Poncho
buồn liệm kín hồn anh
Mai trở
về bờ tóc em xanh
Vội vã
chít khăn sô vĩnh biệt
...
Và sau đây
là lời bài “Kỷ Vật Cho Em” (phát hành lần đầu)
do Phạm Duy “sáng tác” như sau:
Em hỏi
anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả
lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở
lại có thể bằng chiến thắng Pleime,
Hay Đức
Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,
Anh trở
về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở
về, có khi là hòm gỗ cài hoa (1),
Anh trở
về trên chiếc băng ca (2)
Trên trực
thăng sơn màu tang trắng (3).
Em hỏi
anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả
lời xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở
về chiều hoang trốn nắng
Poncho
buồn liệm kín hồn anh (4)
Anh trở
về bờ tóc em xanh
Chít khăn
sô lên đầu vội vã.. Em ơi! (5)
Em hỏi
anh. Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả
lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở
lại với kỷ vật viên đạn đồng đen
Em sang
sông anh cho làm kỷ niệm
Anh trở
về anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở
về, anh trở về bại tướng cụt chân.
Em ngại
ngùng dạo phố mùa Xuân,
Bên nguời
yêu tật nguyền chai đá.
Em hỏi
anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả
lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở
về nhìn nhau xa lạ
Anhh trở
về dang dở đời em
Ta nhìn
nhau ánh mắt chưa quen
Cố quên
đi một lần trăn trối... Em ơi!
Em hỏi
anh em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả
lời, xin trả lời mai mốt anh về
_________________
* Lời
thứ hai của bài hát sau khi Phạm Duy sửa lại (để khỏi
bị chính phủ VNCH cấm hát):
(1) Anh
trở về có khi là một chiếc vòng hoa
(2) Anh
trở về bằng khúc hoan ca
(3) Trên
trực thăng vang trời thanh vắng
Em hòi
anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả
lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở
về chiều hoang trốn nắng
(4) Poncho
từng phủ kín đời anh
Anh trở
về bờ tóc em xanh
(5) Chiếc
khăn tay ngăn dòng lệ ứa... em ơi...
...
Phạm Duy
đã có lần lộng ngôn là:
“… mọi
người(?) chỉ hát các bài nhạc tôi viết trong lúc đi ỉa
(?!)”
Chuyện “đi
ỉa” là chuyện đời tư và vệ sinh cá nhân của
Phạm Duy, tôi không có lý do gì cần phải bàn thêm; nhưng
cái sở trường “đánh hơi trong lúc đi ỉa” đặc biệt
của thiên tài Phạm Duy mới là chuyện đáng nói. Cũng năm
1971, Phạm Duy còn đánh hơi, bắt mạch được (thị trường)
thị hiếu yêu nhạc của giới trẻ, tung ra một bản nhạc
phổ thơ với triết lý “Có còn hơn không” của thi
sĩ Nguyễn Tất Nhiên. Đó là bài “Thà như giọt mưa.”
Thật ra Phạm
Duy đã “chôm” bài thơ “Khúc tình buồn” của thi
sĩ Nguyễn Tất Nhiên nguyên văn như sau:
Người
từ trăm năm
về
qua sông rộng
ta ngoắc
mòn tay
trùng
trùng gió lộng
(thà
như giọt mưa
vỡ
trên tượng đá
thà như
giọt mưa
khô
trên tượng đá
có còn
hơn không
mưa
ôm tượng đá)
Người
từ trăm năm
về
khơi tình động
ta chạy
vòng vòng
ta chạy
mòn chân
nào hay
đời cạn
(thà
như giọt mưa
vỡ
trên tượng đá
thà
như giọt mưa
khô
trên tượng đá
có còn
hơn không
mưa
ôm tượng đá)
Người
từ trăm năm
về
như dao nhọn
ngọt
ngào vết đâm
ta chết
âm thầm
máu chưa
kịp đổ
(thà
như giọt mưa
vỡ
trên tượng đá
thà
như giọt mưa
khô
trên tượng đá
có còn
hơn không
mưa
ôm tượng đá)
Thà
như giọt mưa
gieo xuống
mặt người
vỡ
tan vỡ tan
nào ta
ân hận
bởi còn
kịp nghe
nhịp
run vồi vội
trên ngọn
lông măng
(người
từ trăm năm
vì ta
phải khổ)
(“Khúc tình
buồn” – Nguyễn Tất Nhiên)
Rồi viết
lại thành bài hát “Thà như giọt mưa:”
Thà như giọt
mưa vỡ trên tượng đá
thà như
giọt mưa khô trên tượng đá
thà như
mưa gió đến ôm tượng đá
có còn
hơn không, có còn hơn không
có còn
hơn không, có còn hơn không
Người
từ trăm năm về qua sông rộng
Người
từ trăm năm về qua sông rộng
ta ngoắc
mòn tay, ta ngoắc mòn tay
chỉ thấy
sông lồng lộng, chỉ thấy sông chập trùng
Thà như
giọt mưa vỡ trên tượng đá
thà như
giọt mưa khô trên tượng đá
thà như
mưa gió đến ôm tượng đá
có còn
hơn không, có còn hơn không
có còn
hơn không, có còn hơn không
Người
từ trăm năm về khơi tình động
người
từ trăm năm về khơi tình động
ta chạy
vòng vòng ta chạy mòn chân
nào có
hay đời cạn nào có hay cạn đời
Thà như
giọt mưa vỡ trên tượng đá
thà như
giọt mưa khô trên tượng đá
thà như
mưa gió đến ôm tượng đá
có còn
hơn không, có còn hơn không
có còn
hơn không, có còn hơn không
Người
từ trăm năm về như dao nhọn
người
từ trăm năm về như dao nhọn
dao vết
ngọt đâm ta chết trầm ngâm
dòng máu
chưa kịp tràn
dòng máu
chưa kịp tràn
Thà như
giọt mưa vỡ trên tượng đá
thà như
giọt mưa khô trên tượng đá
thà như
mưa gió đến ôm tượng đá
có còn
hơn không, có còn hơn không
có còn
hơn không, có còn hơn không
(“Thà như giọt
mưa” – Phạm Duy)
__________
* Mời
quí vị đọc lời của cả 2 bài trên để thấy và
thưởng thức cái tài “ngửi” rồi “xào lại” của
Phạm Duy như thế nào…
Nhạc phẩm “Thà
như giọt mưa” được phát thanh liên tục mỗi ngày trên
đài phát thanh Sài Gòn và trở thành một “hiện tượng”
chưa hề xẩy ra trước đây trong giới thanh niên, học sinh
sinh viên miền Nam tự do… Hoàn cảnh sáng tác của bài
“Thà như giọt mưa” cũng y hệt như hoàn cảnh của bài
“Kỷ vật cho em.” (“Đánh hơi” lúc trong đi ỉa! và “xào
lại” chút đỉnh). Thành ra trường hợp này, tôi suy luận
ra câu trả lời “dejà vu” của Phạm Duy có lẽ cũng lại
là:
“… vì
tôi không biết thi sĩ là ai? và không biết tìm ở đâu?”
Nguyễn Tất
Nhiên phải vất vả hơn Hoàng Linh Phương rất nhiều. Thứ
nhất Nguyễn Tất Nhiên chỉ là một anh chàng thanh niên mới
18-19 tuổi khi bài thơ “Khúc tình buồn” bị “chôm.”
Thứ hai Nguyễn Tất Nhiên không quen biết nhiều với giới
báo chí truyền thông cho nên không có ai quởn để “bất
mãn dùm” cho mình như trường hợp Linh Phương trước đây.
Nguyễn Tất Nhiên phải chạy ngược chay xuôi “đi gõ cửa
cầu cứu với giới báo chí “(nguyên văn theo lời chị Nguyễn
Thị Minh Thủy, vợ cũ của Nguyễn Tất Nhiên) về vấn đề
tác quyền. Cũng may, có Chu Tử của báo Sống (và một số
báo khác sau đó) đã đứng về phía thi sĩ có thơ bị “cầm
nhầm” phát động lại phong trào tác quyền của người làm
thơ và đồng thời gây áp lực với giới làm nhạc về vấn
đề tác quyền này… Kết quả Phạm Duy đã tìm Nguyễn
Tất Nhiên và lên thăm thi sĩ tại nhà ở Biên Hòa để “nói
một vài lời phải quấy” theo kiểu “jouer papa” chứ chuyện
bồi thường chưa hề được đề cập đến trong lần gặp
gỡ này. Cuối cùng gia đình thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên phải
kiện Phạm Duy và hãng đĩa Việt Nam ra tòa. Kết quả phe
nguyên cáo (gia đình Nguyễn Tất Nhiên) bãi nại và đồng
ý nhận một số tiền bồi thường do hãng đĩa Việt Nam và
Pham Duy dàn xếp.
Sau hai vụ “cầm
nhầm” lớn rồi đưa đến sự nhượng bộ của Phạm
Duy này, một bài thơ nổi tiếng khác của thi sĩ Vũ Hữu Định
được Phạm Duy phổ thơ mà tôi không (chưa tìm ra!) nghe
thấy sự phàn nàn trực tiếp nào của thi sĩ Vũ Hữu Định.
Đó là bài “Còn một chút gì để nhớ.” Phạm Duy “ngửi”
thấy bài này và phổ nhạc thành bài “Còn chút gì đề nhớ.”
(Phạm Duy bỏ mất chữ “một” trong tựa bài) Bài hát
này đã nổi tiếng và biến địa danh “Pleiku,” một thị
trấn mới xa xôi ở cao nguyên sương mù, thành một nét đậm
đáng ghi nhớ trên bản đồ Việt Nam:
Phố
núi cao phố núi đầy sương
Phố núi
cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách
lạ đi lên đi xuống
May mà
có em đời còn dễ thương
Em Pleiku
má đỏ môi hồng
Ở đây
buổi chiều quanh năm mùa đông
Nên tóc
em ướt và mắt em ướt
Da
em mềm như mây chiều trong (Phạm Duy sửa là “Nên em…”)
Phố núi
cao phố núi trời gần
Phố xá
không xa nên phố tình thân
Đi dăm
phút đã về chốn cũ
Một buổi
chiều nào lòng vẫn bâng khuâng
Xin cảm
ơn thành phố có em
Xin cảm
ơn một mái tóc mềm
Mai xa
lắc bên đồi biên giới (Phạm Duy sửa là “trên đồn”)
Còn một
chút gì để nhớ để quên
(“Còn một
chút gì để nhớ’ - Vũ Hữu Định)
Ngoài ra,
còn một bài thơ nổi tiếng khác mà Phạm Duy đã phổ nhạc,
(tôi lấy làm lạ là mà không thấy ai “ngửi” được cái
mùi “cầm nhầm” lời thơ cố hữu của Phạm Duy?), đó
là bài ‘Mùa thu chết” (Nhạc Phạm Duy sáng tác năm 1970
- Thơ G. Apolinaire – Ca sĩ Julie).
"Ta ngắt
đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ
cho: Mùa Thu đã chết rồi!
Mùa Thu
đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu
đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu
đã chết, đã chết rồi. Em nhớ cho!
Em nhớ
cho,
Đôi chúng
ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
Trên cõi
đời này, trên cõi đời này
Từ nay
mãi mãi không thấy nhau
Từ nay
mãi mãi không thấy nhau...
Ta ngắt
đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ
cho: Mùa Thu đã chết rồi!
Ôi ngát
hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ
cho rằng ta vẫn chờ em.
Vẫn chờ
em, vẫn chờ em
Vẫn chờ....
Vẫn chờ...
đợi em!"
Vâng! Tôi
xin nói cho rõ là Phạm Duy đã có “chua” là lời thơ
của Guillaume Apolinaire:
(nguyên văn)
L'adieu
Guillaume
Apollinaire
J'ai cueilli
ce brin de bruyère
L'automne
est morte souviens-t'en
Nous ne
nous verrons plus sur terre
Odeur du
temps brin de bruyère
Et souviens-toi
que je t'attends
.. Nhưng lời
phần lời Việt thì Phạm Duy “tạm xem” như của chính
mình(!). Trong khi, trước đó (năm 1969 cho chính xác) Bùi Giáng
đã dịch bài “L’Adieu ” như sau:
Lời vĩnh
biệt
Bản dịch
của Bùi Giáng
(“ Ði
vào cõi thơ,” trang 80-82, Ca Dao xuất bản, Sàigon, Việt
Nam 1969)
… Ta
đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ
cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng
ta sẽ không tao phùng đựợc nữa
Mộng
trùng lai không có ở trên đời
Hương
thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ
nhé ta đợi chờ em đó ...
…
“Chuyên
dài phổ thơ thành nhạc của Phạm Duy” đang ở chương cuối
cùng; bởi lẽ Phạm Duy, vì lý do tuổi tác và sức khỏe,
không còn vào buồng tắm tự nhiên thong thả như lúc trai trẻ,
đồng thời khứu giác chắc có lẽ cũng hết bén rồi !!!
Diệu Hương
Ở hải ngoại,
ca nhạc sĩ “gia đình HO” Diệu Hương bỗng nhiên trở thành
một hiện tượng âm nhạc.
Thứ nhất
vì nhạc của Diệu Hương nghe “có hồn” mặc dù “lời
nhạc” của Diệu Hương có ý nghĩa “mông lung” theo
kiểu khó hiểu của tranh lập thể Picasso; và dùng hơi nhiều
sáo ngữ (!) Tôi chỉ nghe độ 3-4 bài đầu trong CD “Tình
Ca Diệu Hương 1” với chủ đề “Bài tình ca cho em” (phát
hành năm 2001) thì tôi đã ghi được một số chữ tạm gọi
là “mông lung” như sau:
“ôi xơ
xác linh hồn tôi khắc khoải,”
“bóng
tối chia phôi,”
“trăm
năm như ngàn năm, người cùng đá băn khoăn”
và một
lô “sáo ngữ” như :
“trào
dâng,”
“pha
phôi,”
“đày
đọa,”
“xuyến
xao,”
“hoang
phế,”
“quanh
hiu,”
“thét
gào,”
“giọt
buồn…”
nghe thóang
qua thấy rất quen thuộc như đã nghe ở đâu đó rồi…
giống như các từ ngữ đảo lộn ngớ ngẩn của vi-xi : “đảm
bảo,” “ triển khai…,”
Thứ nhì,
Diệu Hương được xem như là “hàng hiếm” trong ngành
viết nhạc (cũng giống như trong ngành đầu bếp, trang điểm…)
mà đại đa số “thợ“ giỏi là nam giới.
Về loại
chữ “mông lung” và “sáo” này, Trịnh Công Sơn trước
đây đã dùng rất nhiều:
“ôi tóc
em dài đêm thần thoại,”
“ru em
từng ngón xuân nồng,”
“rồi
như đá ngây ngô,”
“nắng
thủy tinh…”
… được
rất nhiều người ưa chuộng và “ cóp-pi” tứ tung. Khi
Trịnh Công Sơn dùng những loại chữ “mông lung” như vậy
khi chúng hoàn toàn mới lạ với tai người thưởng lãm; chúng
được xem như là chữ “gốc;” bởi vì Trịnh Công Sơn không
“cóp-pi” của người khác (đây là ý kiến riêng của cá
nhân TVG !).
Thật ra,
lời nhạc của Trịnh Công Sơn có rất nhiều đoạn nghe
thoáng qua cứ tưởng là “mông lung” nhưng mãi về sau
này có những người từng quen biết, gần gũi với Trịnh
Công Sơn giải nghĩa thêm cho rõ ra, mới hiểu ra những lời “mông
lung” đều có ẩn ý “thật” (real thing) chứ không
phải loại “mông lung” vớ vỉn, gượng ép. Thí dụ :
Chiều
nay em ra phố về
Thấy
đời mình là những chuyến xe
Còn
đây âm vang não nề
Ngày
đi đêm tới trăm tiếng mơ hồ.
...
Nhớ
một người tình nào cũ,
Khóc lại
một đời người quá ê chề.
...
Chiều
nay em ra phố về
Thấy
đời mình là những quán không
Bàn in
hơi bên ghế ngồi
Ngày
đi đêm tới đã vắng bóng ngườị
(“Nghe Những
Tàn Phai” - Trịnh Công Sơn)
Tác giả bài “Văn
hóa cầm nhầm” này đã có may mắn được nghe Khánh Ly
trực tiếp nói (không phải qua sự ghi chép “tam sao thất
bản” từ các nguồn trên mạng) là chính Trịnh Công Sơn
cho Khánh Ly biết bài “Nghe Những Tàn Phai” Trịnh Công
Sơn viết về “tâm sự buồn” của một cô gái làng chơi
đã về già, hết thời. Lời nhạc não nùng thật chứ không
phải là chuyện “mông lung” vớ vẩn như chúng ta nghĩ...
Hoặc:
Hạt bụi
nào hóa kiếp thân tôi
Để một
mai tôi về làm cát bụi
....
Ôi cát
bụi phận này
Vết mực
nào xóa bỏ không haỵ
(“Cát Bụi” -
Trịnh Công Sơn)
Bà Đặng
Tuyết Mai (vợ ông Nguyễn Cao Cầy) trong một dịp gặp gỡ
văn nghệ, đã được Trịnh Công Sơn giải thích và mô tả
sự khai sinh và khai tử (ghi lại trong bài hát “Cát bụi”)
ở trong các làng xã xa xôi ở miền quê Việt Nam là:
“Khi một
đứa bé được sinh ra thì bố mẹ đứa trẻ báo cho làng
xã biết. Người ta ghi tên đứa bé vào một cuốn sổ bằng
viết mực... thế rồi khi đứa bé lớn lên sau lũy tre xanh,
trưởng thành, già... nếu chết đi thì người nhà cũng báo
cho làng xã biết; người ta cũng lấy cái bút gạch tên người
chết trong cuốn sổ đinh này là xong một đời người.”
Chính vì vậy
mà sau khi một cuộc đời được chấm dứt câu “Vết
mực nào xóa bỏ không hay” là thật chứ không phải
là chuyện “mông lung” như chúng ta vẫn nghĩ...
Hoặc:
... Nhiều
đêm thấy ta là thác đổ
Tỉnh
ra có khi còn nghe.
(“Ðêm
Thấy Ta Là Thác Đổ” - Trịnh Công Sơn)
Xin thưa,
ông anh tôi, Bác sĩ Đặng Trần Hào, một người đã tập
thiền cỡ “nhiều năm thâm niên công vụ,” tức là
thiền mỗi ngày vài giờ trong vài chục năm qua, khi hàn huyên
với tôi, Bác sĩ Hào đã phải buột miệng khen Trịnh Công
Sơn:
“Trịnh
Công Sơn phải là sư tổ môn thiền học mới ‘đạt’ được
cái trạng thái ‘thác đổ’ này.”
Vì chính
bản thân Bác sĩ Hào, sau vài chục năm thiền, mỗi khi thiền
xong, mở mắt ra nghe thấy trong đầu còn có “âm vang như có tiếng
thác đổ.”
Thành ra “Nhiều
đêm thấy ta là thác đổ” cũng là thật chứ không phải
là chuyện “mông lung...”
Tôi e rằng
bàn về nhạc Trịnh Công Sơn thêm một tí nữa sẽ lạc
đề. Bây giờ tôi xin trở lại sáng tác của Diệu Hương.
Từ năm 2001 đến năm 2007, Diệu Hương phát hành liền tù
tì một loạt 5 CD “Tình ca Diệu hương 1-2-3-4-5” gồm gần
60 bài hát mà bài nào nghe cũng rất “phê.” Nhưng (lại
“nhưng!” Chữ “nhưng” thật tai hại!) đùng một cái,
năm 2007 bắt đầu đã có tiếng “xì xèo” là Diệu Hương
“đạo nhạc.”
Bài nhạc
rất tiêu biểu (a signature song) được ưa chuộng của Diệu
Hương là bài “Vì đó là em” (2001) có lời rất tha thiết,
thành khẩn như sau:
“Không
cần biết em từ đâu.
Không
cần biết em ngày sau...
Yêu em
khi chỉ biết đó là em... “
Bây giờ nghe
lời nhạc mà nhóm Backstreet Boys hát trong bài “As long as you
love me” (1997)
I don't
know who you are,
I don't
care where you come from.
As long
as you love me...
Sao thấy
nó giống nhau chi lạ: cũng tha thiết và thành khẩn không
sai tí ti ông cụ nào? Tư tưởng lớn luôn luôn gặp nhau
là vậy?!
Về giai
điệu (melody) thì có nhiều người đã quả quyết 100% là
bài “Tình vọng” do Diệu Hương viết năm 2004 (Tuấn ngọc
hát) nghe y chang như bài nhạc “Caruso” rất nổi tiếng
của nhạc sĩ Ý-đại-lợi Lucio Dalla sáng tác năm 1986 (ca
sĩ Lara Fabian hát). Quí vị nên tìm nghe cả hai bài (đề
nghị dùng “Google search”) để thấy tại sao có người dám
“quả quyết là giống 100%” như vậy.
Một số đọc
giả của các diễn đàn Việt ngữ còn cho biết thêm là đã “khám
phá” ra các bài nổi tiếng khác của Diệu Hương liệt kê
sau đây đều có “đạo” không ít thì nhiều về nhạc (melody)
hay lời (lyrics). Xin quí vị tìm xem và nghe lại để tự
tìm hiểu và tự thẩm định:
- “Bài tình
ca của em” sao giống y chang bài “Đêm cô đơn” của
Ngoc Trọng.
- “Lặng
nhìn ta thôi” giống bài “Lời gọi thiên thu” của Trịnh
Công Sơn.
- “Như một
lần nhớ tiếc” giống bài “Hoa sữa” của Hồng Đăng.
Ôi Diệu
Hương ơi! “Mình ơi!” Có phải “mình” là “hàng hiếm”
“made in china!” tìm thấy đâu đó ở “Wal-Mart…” hông???
Bảo chấn
Việt Nam
(sau 1975) không có luật bảo vệ tác quyền (copy rights) cho
nên “sự cố” “tình nghi” “cầm nhầm” “lan tỏa”
rộng lớn trong mọi ngành sản xuất và sáng tác.
Riêng ngành
sáng tác nhạc được các tay “nhạc sĩ” phần lớn là giới
trẻ “cầm nhầm,” “cóp-pi,” “chôm…” tứ tung
thiên địa từ nhạc “gốc” phần lớn từ nhạc Anh, Trung
Hoa, Đại hàn, Nhật… Một khi bị giác hay có người tri
hô lên là “cầm nhầm” thì cứ 10 ông nhạc sĩ trẻ có
đủ 10 ông la làng theo cùng một bài ca (họ lại “cóp-pi”
lẫn nhau ở phần trả lời báo chí mới óai oăm!) là:
“giai
điệu giống nhau là chuyện bình thường,”
“quá
sốc,”
“bị
áp đặt,”
“không
có cơ sở…”
Trang mạng
“ngoisao.net” của
Việt Nam trong ngày 19 tháng 1 năm 2005 đã liệt kê có ít
nhất 70 ca khúc ở trong nước “bị tình nghi” là “đạo
nhạc” từ “nhạc ngoại quốc.” Các “nhạc sĩ” ở
thể loại này gồm cả những tên tuổi đương thời đang
“ăn khách” ở Việt Nam như: Bảo Chấn, Phương Uyên, Quốc
Bảo, Quang Huy, Lê Quang, Võ Thiện Thanh…
Trong khuôn
khổ giới hạn của bài nhận định này, tôi xin nói qua
về một nhạc sĩ điển hình có tên tuổi trong đám thợ
“cầm nhầm” này. Đó là nhạc sĩ Bảo Chấn.
Bảo Chấn đã
“sáng tác” bài nhạc thơ mộng “Tình thôi xót xa” khi
nào?
Năm 1997,
bài “Tình thôi xót xa” được ca sĩ Lam Trường và Hồng
Nhung hát… bỗng dưng bài hát này rất được ưa chuộng
và cả bài hát lẫn nhạc sĩ đều nổi tiếng… Nhưng cũng
ngay sau đó thiên hạ bắt đầu bàn tán rùm lên là Bảo Chấn
“cóp-pi” nhạc (melody) từ bài “Frontier” của nữ nhạc
công Piano và nhạc sĩ người Nhật đã nổi tiếng quốc tế
tên Keiko Matsui (tác giả của gần 20 albums nhạc Jazz). Bài
“Frontier” là một bản nhạc hòa tấu nằm trong album “Chery
blossom” của Cô phát hành năm 1992. Liền ngay sao đó, Bảo
Chấn đã đưa ra lời giải thích với giới truyền thông báo
chí trong nước rất ngon lành, nghe qua thấy rất “hợp tình
hợp lý” như sau:
“Tôi
cam đoan là không có chuyện ‘mượn’ giai điệu của nhạc
Nhật (cho bài “Tình thôi xót xa”). Trong âm nhạc, sáng
tác dựa theo ‘cảm xúc,’ và sự trùng hợp là chuyện rất
bình thường. Tôi sáng tác bài ‘Tình thôi xót xa’ từ thập
niên 80 dành cho bộ phim ‘Nước mắt học trò’ của đạo
diễn Lý Hùynh… Tôi không dám nghĩ là phía Nhật ‘lấy’
giai điệu của tôi (!); nhưng tôi khẳng định là không hề
có chuyện tôi lấy giai điệu từ họ (ám chỉ nhạc của
Keiko Matsui).”
Lời giải
thích thật hào sảng, oai hùng (có cả ngụ ý: “biết đâu
Nhật đã ‘cóp-pi’ từ nhạc Việt!!!” Nếu lời biện
minh của Bảo Chấn đúng thì thật vẻ vang cho nền âm nhạc
Việt Nam…) Nhưng (lại chữ “nhưng” thật tai hại!) khi
những người quan tâm nhìn kỹ vào các cuốn phim của Lý Huỳnh
mà Bảo Chấn (và em là Bảo Phúc) viết nhạc nền như “Nước
mắt học trò,” “Cơn lốc cuộc đời…” từ năm 1991 đến
bây giờ thì chẳng thấy tăm hơi bài “Tình thôi xót xa”
ở đâu cả??? Tìm kỹ càng hơn một tí nữa loanh quanh đâu
đấy thì thấy bài “Tình thôi xót xa” được trình bày
lần đầu tiên trong phim “Truy nã tội phạm quốc tế” của
hãng phim Phương Đông (hợp tác với Đài loan) sản xuất không
phải năm 1991; mà là năm 1997 (cũng là năm mà Lam Trường và
Hồng Nhung hát bài này). Sau các phát giác cụ thể dựa trên
các mốc thời gian này thì Bảo Chấn “khai bịnh” vào nhà
thương nằm “nghỉ” một thời gian vì “gặp phải năm
hạn!” Thật xui xẻo cho nhạc sĩ trẻ tài hoa muốn nổi
tiếng nhanh chóng trên công sức của người khác!!! Người
gian lâu lâu mắc nạn vậy mà có gì mà to chuyện!!!
Đám “hót
sĩ” trong nước như Đàm Vĩnh Hưng, Quang Linh, Đan Trường…
cũng cùng nhau “vô tư” “rinh” nhạc Việt do “ngụy”
sáng tác từ hải ngoại đem về nước rồi tự tiện đổi
tên tựa bài hát, hoặc cả tên tác giả rồi thản nhiên cho
vào các “albums” của họ… Chỉ có “nghệ nhân” của
“đỉnh cao trí tuệ” mới có “khả năng” “làm việc”
như vậy… Đảng và nhà nước ta đã đề xuất phương
châm: “Nhà ngụy ta ở! Vợ ngụy ta lấy...” thì bây giờ
“nhạc ngụy ta cũng lấy nốt” thì có tội vạ gì??? Không
chừng còn được đảng và nhà nước ta ban cho huân chương
“nghệ sĩ nhân dân,” “nghệ sĩ ưu tú.” Các nhạc
sĩ “phản động” ở hải ngoại chỉ có nước thở dài.
Chuyện kiện cáo các “hót sĩ” này có khác gì đi kiện
củ khoai thối; vì luật rừng của “nhà nước ta” không
có khỏan về “tác quyền” để bảo vệ tài sản trí tuệ
của chính người của “cách mạng;” nói chi đến chuyện
diệu vợi bảo vệ tài sản trí tuệ của đám “ngụy sĩ…”
2-
Cầm nhầm Văn chương / bài Khảo cứu
Hồ Chí Minh
Đứng đầu
danh sách đạo văn có tính cách lịch sử toàn cầu là Hồ
Chí Minh.
“Bác”
Hồ Chí Minh, lãnh đạo “kiệt xuất” của XHCNVN, đã phát
minh ra kỹ thuật “Cắt và Dán” (Cut & Paste) từ năm 1945
(tức là gần 50 năm trước khi bác “biu gết” làm ra Window
95). “Chính sử của đảng cộng sản và nhà nươc XHCN Việt
Nam” đã khẳng định là “Bác Hồ” đã “tự ý soạn
thảo” ra và đọc “Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa” trên lễ đài sáng 2-9-1945 tại Quảng
trường Ba Đình, Hà Nội như sau:
“Hỡi
đồng bào cả nước,
Tất cả
mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho
họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong
những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc…"
(Trích “Hồ Chí
Minh toàn tập”)
Trong khi bản “Tuyên
ngôn độc lập của Hoa kỳ” công bố năm 1776 đã được
viết là:
“All the
peoples on the earth are equal from birth, all the peoples have a right
to live, to be happy and free.”
(Declaration
of Independence of the United States of America 1776)
Những ai
biết đọc và viết Anh ngữ thì thấy 2 câu Việt ngữ
và Anh ngữ, nếu đem để sát bên nhau, không phải là sự
trùng hợp ngẫu nhiên… mà là một sự sao chép tinh vi của
“đỉnh cao trí tuệ.”
Về vấn đề
đạo thơ, Bác Hồ đã “cắt” 4 câu thơ khác nhau của
5 thi hào nổi tiếng thành và “dán” lại thành ra bài
thơ “hay nhất thế kỷ” của “Bác:” Bài thơ “Nguyên
Tiêu.” (Xin mời đọc thêm chi tiết “cắt và dán” này
qua bài “Đọc bài thơ Nguyên Tiêu của HCM” cũng do TVG viết
trong các websites sau đây:
http://hon-viet.co.uk/TranVanGiang_DocBaiThoNguyenTieu_cuaHochoMinh.htm
Hoặc (bằng
Unicode):
http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=print&sid=3454
Giáo sư Lê
hữu Mục còn biên khảo thành cả một cuốn sách dầy tựa
đề: “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật
Ký”
(http://groups.yahoo.com/group/NV_7/message/1085)
để chứng
minh rằng:
“Hồ Chí
Minh chỉ là kẻ đạo văn, mượn đầu heo nấu cháo, ăn cắp
nguyên con một cách lố bịch và trơ trẽn tập ‘Ngục Trung
Nhật Ký’ của một người bạn tù người tầu rồi để
tên mình là tác giả…”
Mục sư
Tiến sĩ Martin Luther King Jr. (MLK)
Sau khi bị
ám sát năm 1968, MLK, một Mục sư da đen đấu tranh cho nhân
quyền – nhất là sự bình đẳng của dân da mầu - được
dân da đen ở Hoa kỳ xem một như vị thánh tử đạo. Trên
lãnh thổ Hoa kỳ, tất cả những cái không Chân, không Thiện
và không Mỹ của MLK đều bị ếm nhẹm một cách có hệ
thống…
Thực ra,
đã có nhiều lời đồn đại phổ biến rộng rãi từ đầu
thập niên 1980 về sự đạo văn của MLK; nhưng phải chờ các
bài viết về MLK (đặc biệt nhất là của Theodore Pappas)
xuất hiện trên văn đàn ở Anh quốc, dân Hoa kỳ mới có cơ
hội biết rõ thêm về đời tư và sự thông minh thực sự
của MLK.
MLK có phải
là người liên tục đạo văn của người khác không?
Các tài liệu đang
có sẵn đã chứng minh điều này là đúng. Thí dụ:
- Một bài
“essay” của MLK tựa đề “The Place of Reason and Experience
in Finding God,” viết lúc MLK theo học môn thần học tại trường
Crozer (một “college” của dân da đen, nơi MLK theo học ban
Cử nhân), đã “chôm” (pirated) rất nhiều đoạn từ công
trình của nhà thần học Edgar S. Brightman, tác giả của cuốn
sách “The Finding of God.”
- Một luận
trình khác của MLK tựa đề “Contemporary Continental Theology,” viết
chỉ một thời gian ngắn sau khi MLK nhập học trường Boston
University, đã “chôm” (stolen) một phần lớn (largely) từ cuốn
sách viết bởi Walter Marshall Horton.
- Năm 1955,
MLK trinh luận án tiến sĩ về thần học tựa đề “A Comparison
of the Conceptions of God in the Thinking of Paul Tillich and Harry Nelson
Wieman,” đã chôm hơn 50% nội dung của luận án tiến sĩ trình
trước đó với tựa đề “The Place of Reason in Paul Tillich's
Concept of God” của Dr. Jack Boozer. Sự đạo văn này còn rõ
rệt một cách đáng sợ là MLK “cọp-pi” cả những câu
đã “trích sai lầm” (citation errors) từ sách đệ trình luận
án của Dr. Jack Boozer.
Tác giả Theodore
Pappas đã lấy làm ngạc nhiên và sau đó nghi ngờ là hình
như ban giảng huấn ở Boston University khi chấm luận án tiến
sĩ của MLK đã không thực sự là đọc bản luận án này.
Nói cách khác là họ cứ nhắm mắt cấp cho MLK bằng tiến
sĩ. Bởi vì, theo ông Pappas, nếu có ít nhất một người
trong ban chấm thi này đọc thôi, thì họ đã phải thấy ngay
sự đạo văn này.
Vấn đề đạo
văn của MLK không dừng lại ở các bài viết của MLK.
Năm 1963, MLK đọc một bài diễn văn “lịch sử” nổi tiếng
trong lịch sử Hoa Kỳ: Đó là bài “I have a dream.” Bài
“I have a dream” thực ra của Mục sư da đen tên Archibald Carey
đã đọc trước đại hội đảng Cộng hòa năm 1952.
Đây là chuyện
của hai nhân vật nổi tiếng thế giới, một ở trong nước
Việt Nam và một ở Hoa kỳ… Nhiều “tác giả” lớn, nhỏ
ngày hôm nay tận dụng kỹ thuật “cắt và dán” để “chôm”
các bài viết, bài khảo cứu đã được phổ biến trước
đây (dùng lại nguyên con nhiều khi có đủ cả dấu chấm,
dấu phẩy, typo…) rồi hiên ngang để tên mình với chữ
đậm nét ở cuối bài. Nếu có người nào cắc cớ tìm
ra nguồn của các bài việt này; và hỏi họ thì họ đã có
sẵn câu trả lời thật tiện nghi là “tôi quên!”
Các bài khảo
cứu văn học, lịch sử hay khoa học của các “ông thầy”
Việt Nam trong và ngoài nuớc có “học hiệu” cao như “giáo
sư,” “tiến sĩ,” “thạc sĩ,” “bác sĩ…” cũng
thường có liệt kê qua loa chiếu lệ trong mục “tham khảo”
mà lỡ có ai quởn mở các tham khảo này thì hoàn toàn mù
tịt, lạc hướng…
3-
Cầm nhầm Tên tuổi
“Cầm nhầm
Tên tuổi” đôi khi còn được gọi nôm na là “thấy
người sang bắt quàng làm họ.”
Những con
cá kèo, những “small fries,” vô danh nhưng nhiều thủ đoạn
muốn “nổi” cho mau thường dùng kiểu “cầm nhầm” này:
đi đường tắt bằng cách mượn một tên tuổi lớn có sẵn
để quá giang cho tới bến cho mau chóng.
Nguyễn
Ái Quốc
Đầu tiên,
tên gọi “Nguyễn Ái Quốc,” theo chính sử của đảng Cộng
sản và nhà nước XHCN Việt Nam, vẫn được xem là tên riêng
của một mình Nguyễn Tất Thành (sau đó đổi tên nhiều lần
trở thành Hồ Chí Minh). Bản “Yêu sách của người An
Nam,” viết bằng tiếng Pháp với tựa đề “Revendications
du peuple annamite,” xưa nay vẫn được xem là công của
một mình Hồ Chí Minh gửi lên Hội Nghị Versailles. Nhưng sử
gia Sophie Judge-Quinn quả quyết “Yêu sách của người An Nam”
năm 1919 ký tên “Nguyễn Ái Quốc” là của một mình Phan
Văn Trường vì lúc đó Nguyễn Tất Thành không thể có đủ
trình độ viết và nói tiếng Pháp thông thạo như Phan Van
Trường (Luật sư).
Một trong
những người đầu tiên xác định bút hiệu “Nguyễn Ái
Quốc” là tên của chung nhiều người là sử gia Pháp
Daniel Hémery, trong “Ho Chi Minh, de l'Indochine au Vietnam ,” xuất
bản năm 1990. Đồng thời sử gia Nguyên Thế Anh trong “L'intinéraire
politique de Hô Chi Minh” đã ghi Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường
cũng đứng tên “Nguyễn Ái Quốc” (Nguyên Thế Anh không
có liệt kê tên ông Nguyễn Thế Truyền). Nhưng theo sử gia
Daniel Hémery, những người đã dùng bút hiệu “Nguyễn Ái
Quốc” gồm có Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế
Truyền và Nguyễn Tất Thành. Trong số 4 người dùng tên Nguyễn
Ái Quốc chỉ có Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Sinh Cung - Hồ Chí
Minh) là học hành kém cỏi nhất - chưa học xong bậc tiểu
học - còn 3 người còn lại của nhóm đều là khoa bảng lớn
(Phan Văn Trường là Luật sư, Phan Chu Trinh là Phó Bảng, Nguyễn
Thế Truyền có 2 bằng kỹ sư Hóa học và cử nhân Triết).
Mặc dù kém
học, tài hèn nhưng vì có sẵn thủ đoạn, thấy tên Nguyễn Ái
Quốc có vẻ “ăn khách” cho nên Nguyễn Tất Thành giữ
luôn làm của riêng cho mình; dùng nó để làm bàn đạp thăng
tiến sự nghiệp “Kách mệnh...”
Vũ Trọng
Phụng
Dân mít ta
học đến bực trung học thì có ai mà không biết tên tuổi
của nhà văn Vũ Trọng Phụng, tác gỉa của những truyên
xã hội nổi tiếng như Giông tố, Số đỏ, Cơm thầy cơm
cô…
Gần đây
có một nhân vật xuất hiện trên môt chương trình phỏng
vấn của đài truyền hình Việt Nam SBTN ở Nam Califirnia
tự xưng là Đại tá biệt kích (?) Vũ Trọng Khanh, biệt
hiệu là Vũ Lăng (?) tốt nghiệp khóa 4 võ bị Đà lạt (?)
là con trai của Vũ Trọng Phụng (?) Me xừ Vũ Trọng Khanh
còn khai tới luôn là mẹ ông là em gái của Luật sư Trần
Văn Tuyên (?)… Ối chà chà! Sao chẳng có ai hay biết về
ông Đại tá biệt kích này. Thật là một thiếu sót lớn
lao!!!
Nhà văn
Hoàng Hải Thủy cho biết chính ông và các bạn văn khác của
ông đều biết là Vũ Trọng Phụng chỉ có một người
con gái thôi, không có con trai. Năm 1975 đã có một người
cả gan tự nhận là Vũ Trọng Khanh, con trai của Vũ Trọng
Phụng đến gặp ông tại Sài gòn qua sự giới thiệu của
một bạn văn của Hoàng Hải Thủy tên Phù Hư. Hoàng Hải
Thủy lần đầu tiên (1975) nghe tên “Vũ Trọng Khanh” đã
nghi ngờ rồi. Tháng 3 năm 2008 nhìn hình ảnh của ông “Vũ
Trọng Khanh” trên màn ảnh Truyền hình SBTN thì Hoàng Hải
Thủy nhận thấy ông “Vũ Trọng Khanh” mới toanh này không
phải là ông “Vũ Trọng Khanh” ông đã gặp năm 1975 (?)
Đồng thời,
Luật sư Trần Từ Huyền, trưởng nam của luật sư Trần Văn
Tuyên phải gởi cậy đăng trên nhiều trang báo chí Việt ngữ
một “thư ngỏ” của gia đình ông đại ý nói rằng gia
đình Huyền không hề biết ông Vũ Trọng Khanh này; cũng như
gia phả nhà ông Huyền không có dấu vết gì của me xừ Vũ
Trọng Khanh. Đại tá Vũ Lăng quăng xứng đáng được nhận
một bằng tưởng lục “Có cố gắng!!!”
Hu-ke Đặng
Văn Củ Ấu
Cách đây
khoảng 3 tuần lễ, có me xừ Hu-Ke Đặng Văn Củ Ấu (?) nào
đó tôi không rõ (xin quí vị niệm tình tha lỗi cho bệnh lãng
trí cấp tính của tôi) đã cho phổ biến rộng rãi trên mạng
một lá thư cá nhân loại “củ ấu” trên các điễn đàn
Việt ngữ nhằm mục đích “giải độc” cho “kép độc”
Nguyễn cao cầy. Tôi xin trích nguyên văn 5-6 giòng đầu tiên
của lá thư củ ấu như sau:
“Thành
phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, ngày 11 tháng 2 năm 2010.
Thưa anh
Nguyễn Ngọc Linh,
Lâu lắm
mới nhận được email của anh. Hôm Giáng sinh vừa qua, tôi
gửi email báo tin cho anh Bùi Diễm, anh Tôn Thất Thiện và anh
hay rằng anh tôi – anh Đặng văn Châu – đã qua đời mà
không thấy anh hồi đáp thì tôi nghĩ rằng anh có điều gì
buồn phiền tôi…”
Mới đọc
3 giòng đầu của lá thơ thôi, bác “củ ấu” nhà ta
đã quàng vào sơ sơ một lúc 3 cái tên lớn của Chính phủ
VNCH: Nguyễn Ngọc Linh cựu Giám đốc Việt tấn xã, Bùi Diễm
cựu Đại sứ Việt Nam tại Hoa kỳ, Bác sĩ Tôn Thất Thiện
cựu Tổng truởng thông tin… để đọc hù dọa độc giả…
3 người này chỉ là “người trong nhà” của củ ấu…
đấy nhá! Mãi bây giờ bàng dân thiên hạ mới biết kích
thước củ ấu nhà ta to cỡ nào? Oai thật!
Củ ấu
còn khoe là chỉ có một mình củ ấu là biết là quen
lớn với kép độc Nguyễn cao cầy; vì vậy chỉ có củ ấu
mới biết được Hoàng gia Mã lai (?) đã phong cho Nguyễn
cao cầy chức cà “Tũn.” Để làm bằng chứng cho cái
danh vị cà “tủn” oai nghi này, bác củ ấu còn trưng một
tấm ành của Nguyễn cao cầy trong sắc phục oai phong như một
anh bồi khiêng hành lý ở khách sạn (bell boy). Danh giá thiệt!!!
Đúng là cà tũn!!!
Tả pín
lù
Bây giờ đang
có một phong trào rất rầm rộ “nhận vơ” là họ
hàng, con rơi, người tình… loại “cầm nhầm” các tên
tuổi của các nhân vật nổi tiếng hoặc hoàng gia, quí tộc…
Diêu Hương
đã nhiều lần tuyên bố trong các buổi tiệc: Diệu Hương
là “người yêu” duy nhất của Trịnh Công Sơn. Trịnh
Công Sơn không lấy được Diệu Hương thì nhất định không
lấy ai (?) Có người trong “circle” của Trịnh Công Sơn
đã khai báo là Trịnh Công Sơn liệt… thì nếu Trịnh Công
Sơn có lỡ dại yêu và lỡ lấy phải Diệu Hương cũng chỉ
là chuyện “rồi như đá ngây ngô” thôi chứ “hưng
phấn” gì đâu mà đã vội hô hoán lên cho thiên hạ sợ???
Môt nữ thi
sĩ tài hoa khác là Bùi H.T. nào đó gốc gác ở Đà lạt đã
tự loan tin nữ thi sĩ là “con rơi” của thi sĩ Bùi
Giáng (?) Trời đất! “Con rơi (!)” thì có gì vẻ vang
danh giá đâu mà cũng cố gắng bắt quàng làm họ… Ngoài
ra Bùi Giáng nghe đâu cũng liệt… như Trịnh Công Sơn thì
lấy đâu mà nặn ra con rơi??? Give us a break!!!
Tôi có môt
anh bạn tên Tôn Thất H. Thỉnh thoảng anh H. cũng nói nửa
đùa nửa thật rằng anh là một hoàng thân của hoàng gia họ
Nguyễn. Tình cờ tôi thấy trên giấy tờ là anh H. sinh quán
ở Quảng Ngãi. Tôi hỏi đùa chọc quê anh H. là:
“Tại sao
mày là giòng họ hoàng tộc mà lại sinh ở Quảng Ngãi?”
Anh bạn Tôn
Thất H. trả lời là:
“Có gì
mà mày phải ồn ào? Tại vì ‘Vua’ đến thăm và ngủ
lại ở Quảng Ngãi chỉ có một đêm thôi à!”
Chỉ có vậy
thôi (một đêm) thì cũng chẳng nên “cầm nhầm” làm
gì.
Có cố gắng !!!
Trần
Văn Giang
03/03/2010